Bệnh lý giãn tĩnh mạch thực quản do xơ gan

1. Nguyên nhân giãn TM thực quản

Xơ gan là một trong những bệnh lý rất phổ biến hiện nay với các biến chứng thường gặp của xơ gan như vỡ giãn tĩnh mạch thực quản, cổ trướng, nhiễm khuẩn màng bụng tiên phát, hội chứng gan thận, bệnh não gan… Với giãn tĩnh mạch thực quản, có nhiều mức độ tổn thương, thường được phát hiện khi có chảy máu đường tiêu hóa. Phần lớn bệnh nhân đến viện trong tình trạng chảy máu đường tiêu hóa nặng, thậm chí đe dọa sinh mạng người bệnh.

Có đến 50% người mắc bệnh xơ gan bị giãn tĩnh mạch thực quản. Mỗi năm, số người bị giãn tĩnh mạch thực quản tăng khoảng 5 – 15%. Nguyên nhân gây giãn tĩnh mạch thực quản chính là nguyên nhân làm tăng áp lực tĩnh mạch cửa, bao gồm:

  • Tắc trước xoang: Do chèn ép từ các nhánh lớn tĩnh mạch cửa trở ra hoặc chèn ép từ các nhánh nhỏ tĩnh mạch cửa (tiểu thùy) trở lên.
  • Tắc tại xoang.
  • Tắc sau xoang: Tắc trong gan do chèn ép tĩnh mạch trên gan nhỏ (tiểu thùy), phổ biến là do xơ gan. Tắc ngoài gan do chèn ép tĩnh mạch trên gan trở lên.
  • Tăng áp tĩnh mạch cửa không do tắc mà do luồng máu đến nhiều hoặc tăng áp tĩnh mạch cửa không rõ nguyên nhân (hội chứng Banti).

2014-11-18_161205

2. Mức độ nguy hiểm của giãn TM thực quản vỡ

Khi giãn tĩnh mạch thực quản chuyển sang biến chứng nặng, tĩnh mạch thực quản sẽ bị vỡ.

Nếu không đi kèm xơ gan, mức độ tử vong từ 5 – 10%. Nếu kèm theo xơ gan, tỷ lệ tử vong lên tới 40 – 70%.

Với bệnh nhân vỡ tĩnh mạch thực quản, 40% trường hợp tự ngưng chảy máu. Tuy vậy, nếu không được điều trị thì sẽ có 30% chảy máu tái phát trong vòng 6 tuần, 70% trong 12 tháng và mức độ chảy máu cũng như tỷ lệ tử vong ở những lần chảy máu tái phát thì cao hơn những lần trước đó.

3. Điều trị giãn TM thực quản

Khi bệnh nhân nôn ra máu nghĩa là tĩnh mạch thực quản bị vỡ, phải nhanh chóng đưa đến bệnh viện. Có nhiều hương pháp điều trị giãn tĩnh mạch thực quản, mỗi phương pháp có những ưu và nhược điểm nhất định. Việc chỉ định phương pháp điều trị phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó cơ bản là nguyên nhân gây tăng áp lực tĩnh mạch cửa, mức độ đáp ứng của người bệnh với các phương pháp không xâm nhập…

Chiến lược điều trị giãn TM thực quản cần được xác định đó là ưu tiên phòng ngừa vỡ giãn tĩnh mạch thực quản và phòng chảy máu trở lại. Phòng ngừa vỡ giãn tĩnh mạch thực quản được áp dụng cho tất cả các bệnh nhân có biểu hiện giãn tĩnh mạch từ mức độ vừa trở lên, tập trung vào việc làm giảm áp lực tĩnh mạch cửa và dùng các biện pháp tác động trực tiếp lên tĩnh mạch như tiêm xơ, thắt tĩnh mạch thực quản bằng vòng cao su, nhiều nghiên cứu cho thấy rằng thắt tĩnh mạch thực quản bằng vòng cao su là biện pháp phòng ngừa ban đầu làm giảm tỷ lệ chảy máu và tử vong liên quan tới xuất huyết. Các thuốc nhóm chẹn beta giao cảm không chọn lọc như propranolol, nadolol, các nitrates

Một số biện pháp cơ học như tạo các đường nối thông từ tĩnh mạch cửa sang tĩnh mạch chủ bằng TIPS (Transjugular Intrahepatic Portosystemic Shunt) hay phẫu thuật giúp đều giúp làm giảm áp lực tĩnh mạch cửa. Các biện pháp cơ học làm giảm áp cửa rõ rệt tuy vậy lại có thể gây ra bệnh não gan nhanh hơn nên không thể là các biện pháp phòng bệnh ban đầu.

xo gan

Trong trường hợp chảy máu do giãn vỡ tĩnh mạch thực quản, trước hết cần hồi sức ổn định tình trạng huyết động, dùng kháng sinh dự phòng, truyền nhỏ giọt tĩnh mạch các thuốc có tác dụng làm giảm áp lực tĩnh mạch cửa somatostatin, vasopressin, cân nhắc các biện pháp tiêm xơ hoặc thắt tĩnh mạch thực quản bằng vòng cao su. Khi các biện pháp này không phát huy được hiệu quả cầm máu thì cần cân nhắc đến biện pháp nút tĩnh mạch thực quản qua da PTO

Th.S, BS Đào Danh Vĩnh

Nguồn: Bệnh viện Bạch Mai

Gửi bình luận

Lên đầu trang Xuống cuối trang